Quản lý dịch vụ của điện toán đám mây

Quản lý dịch vụ của điện toán đám mây
access_time 11/1/2015 9:02:06 AM
person Nguyễn Mạnh Hùng
Quản lý dịch vụ bao gồm triển khai (deployment), giám sát (monitoring), lập báo cáo (Reporting), dịch vụ cung cấp thỏa thuận (SLA)(service-level agreement) và đo lường thanh toán (metering billing).
1. Triển khai và cấu hình (Deployment and Configuration)
Để giảm thiểu sự phức tạp và hành chính hóa trong quá trình triển khai đám mây. Chúng ta cần tự động quá quy trình theo chu kỳ vòng đời của sự phát triển. Tự động hóa cấu hình hệ thống, bảo trì hệ thống mạng máy tính bằng cách dựa trên các chính sách quy định các đặc tính kỹ thuật đặc thù là vô cùng quan trọng.
Có rất nhiều các bộ công cụ hỗ trợ thực hiện quản lý thực hiện cấu hình như : cfengine [CFengine (2009) http://www.cfengine.org], Chef của Opscode-chef[Opscode (2009) http://www.opscode.com], rPath [rPath (2009) http://www.rpath.com] và Puppet.
2. Giám sát và thiết lập báo cáo (Monitoring and Reporting)
Phát triển, kiểm thử, tìm lỗi và nghiên cứu về hiệu năng thực thi của điện toán đám mây là khá phức tạp. Chi phí quản lý tăng nên một cách đáng kể khi số lượng các site tăng nên.
Để giải quyết vấn đề đã đề cập ở trên chúng ta cần giám sát và thiết lập các báo cáo về hệ thống. Sự giám sát về cơ bản đó là giám sát chu kỳ vòng đời SLA. Quá trình thiết lập giám sát cũng xác định khi một SLA hoàn tất và thiết lập báo cáo về đo lường thanh toán.
Ví dụ
Một số các dịch vụ được sử dụng để thực hiện giám sát hệ thống đám mây và thiết lập báo cáo như sử dụng Hyperic HQ [9] để thực hiện giám sát các dịch vụ SimpleDB, SimpleQueue của Amazon.
Amazon SimpleDB
Amazon SimpleDB (SDB) là dịch vụ Web cho phép lưu trữ, xử lý và truy vấn tập hợp dữ liệu có cấu trúc. Dữ liệu lưu trữ không phải là một cơ sở dữ liệu quan hệ theo cách tiếp cận truyền thống mà ở mức độ cao hơn dưới dạng các sơ đồ, với dữ liệu ít cấu trúc lưu trữ trong các đám mây.
Người dùng có thể sử dụng để lưu trữ và khôi phục các giá trị khóa. Mỗi một tập hợp các giá trị khóa cần phải có một tên một mục duy nhất; các mục là được phân chia vào từng miền khác nhau. Mỗi một mục có thể lưu giữ lên tới 256 cặp giá trị khóa của dữ liệu. Bạn có thể thực thi các truy vấn dựa trên tập dữ liệu của bạn trong từng miền khác nhau. Các truy vấn dựa theo từng miền là không được hỗ trợ bởi SDB.
Simple Storage Service
Amazon Simple Storage Service (S3). S3 là hệ thống lưu trữ dữ liệu nhanh và có thể mở rộng được trên internet giúp người dùng lưu trữ và lấy dữ liệu một cách đơn giản với bất cứ dung lượng nào, Cơ chế tính phí dựa trên dung lượng lưu trữ và băng thông mà người sử dụng dùng. Không phí cài đặt, không phí tối thiểu hay phí phụ trội. Ba khái niệm nền tảng cho khung làm việc S3 là thùng (buckets), đối tượng (objects), và khóa (keys). Ngoài ra S3 hỗ trợ các đặc tính như : Lập nhật ký truy cập tới các thùng (Buckets), cơ chế bảo mật đối với thùng và mỗi đối tượng khi được tạo trong S3 (Sự xác thực “Authentication”, tính cấp phép” Authorization”, tính tích hợp “Integrity”, Mã hóa “Encryption”, Không từ chối “Nonrepudiation”.
 
3. Thỏa thuận cấp dịch vụ (Service-Level Agreements (SLAs) Management)
Người dùng luôn muốn dịch vụ hệ thống ổn định và đáng tin cậy. Kiến trúc đám mây được coi là có tính sẵn sàng cao, và có thể chạy ổn định 24h/ngày × 7 ngày. Nhiều dịch vụ đám mây được các nhà cung cấp đầu tư chi phí rất lớn với mục tiêu là cho hệ thống đám mây của họ đáng tin cậy. Tuy nhiên, Hầu hết các nhà cung cấp điện toán đám mây hiện nay không cung cấp tính sẵn sàng cao của điện toán đám mây. Nếu vì một lý do nào đó mà dịch vụ đi xuống thì khách hàng sẽ phải thực hiện những gì ? Làm thế nào để họ có thể truy cập được dữ liệu được lưu trữ trên đám mây ? Trong trường hợp này các nhà cung cấp đám mây sẽ phải trả tiền phạt cho khách hành như tiền bồi thường để đáp ứng SLAs.
SLA được định nghĩa như là một hợp đồng giữa nhà cung cấp dịch vụ và khách hàng để đảm bảo các yêu cầu dịch vụ mong muốn. Nó bao gồm các đáp ứng mong muốn của dịch vụ và các tham số . Có một số ít tiêu chuẩn chung liên quan tới các tham số SLA: trong đó đề cập tới tham số gì và giá trị của nó được tính toán như thế nào. Các định nghĩa liên quan tới các tham số như tín sẵn có, độ tin cậy, tính sẵn sàng, tính bảo mật…và báo cáo về sự đồng thuận của việc sử dụng dịch vụ [10]. Về vấn đề tính toán SLA đề cập tới làm thế nào để tính toán chính xác các tham số chất lượng dịch vụ mà nhà cung cấp dịch vụ cung cấp cho khách hàng. Các thống kê hoạt động của các ứng dụng và mạng quan trọng có thể đóng vai trò cơ bản ảnh hưởng tới quản lý SLA
Ví dụ Amazon cung cấp SLA với khẩu hiệu“99,9% thời gian sử dụng trong tháng” đối với Amazon S3, sẵn sàng giảm chi phí cho khách hàng 25% nều chất dịch vụ cung cấp xuống dưới 90%. Với trung tâm sữ liệu riêng (3Tera Virtual Private Data Center (VPDC), Amazon đảm bảo tính sẵn sàng với khách hành là 99,999% trong việc đưa các ứng dụng quan trọng nên điện toán đám mây.
4. Đo lường tốc độ và tính phí (Metering and Billing)
Sử dụng cơ chế đo lường tốc độ và tính phí sẽ gia tăng độ tin cậy của người sử dụng đối với mô hình đám mây. Trả tiền theo thuê bao và theo dung lượng thực dùng là các mô hình được sử dụng phổ biến trong dịch vụ đám mây. Các thông số liên quan việc đo lường tốc độ sẽ được sử dụng làm tham số thiết lập trạng thái cho thỏa thuận cung cấp dịch vụ (SLA) và việc lập chiến lược tính phí như : Thời gian sử dụng bộ nhớ RAM, năng lực CPU, băng thông (truyền dữ liệu ra, nhận dữ liệu vào “Inbound/Outbound Data Transfer”), dung lượng lưu trữ ”thông thường được tính theo GB”, phí phần mềm.
Ví dụ : Mô hình tính toán chi phí GoGrid [GoGrid’s prepaid cloud hosting plans], nghiên cứu tính toán chi phí của IDC[Rainge E (2009, May) Worldwide telecom cloud billing 2009–2013 forecast. IDC Doc #217313].
5. Cấp phép (Provisioning)
Tự cấp phép dịch vụ ứng dụng cho phép các nhà phát triển ứng dụng có thể thiết lập cơ sở hạ tầng ứng dụng, chẳng hạn như máy chủ ứng dụng Java, cơ sở dữ liệu, máy chủ truyền thông báo mà không có bất kỳ giúp đỡ hoặc hỗ trợ từ các đội cơ sở hạ tầng.
Tính năng tự cấp phép dịch vụ ứng dụng làm ẩn sự phức tạp của các đám mây doanh nghiệp từ các nhà phát triển ứng dụng. Tính năng này thực hiện trao quyền cho các nhà phát triển để họ có thể thiết lập và cấu hình cơ sở hạ tầng ứng dụng phức tạp một cách đơn giản thông qua sự kiện click vào các nủt.
Bằng việc xây dựng các cổng thông tin hỗ trợ cho việc tự cung cấp dịch vụ ứng dụng theo yêu cầu sẽ làm giảm chi phí. Quá trình cung cấp cũng giúp cho việc quản lý tài nguyên, quản lý khối lượng công việc, tự động phục hồi, thực thi các nhiệm vụ và các tiến trình một cách tự động. Cung cấp có nghĩa là theo thời gian, theo nhu cầu cấp phát và hủy cấp phát. Ngôn ngữ đánh dấu cấp phát dịch vụ(Service Provisioning Markup Language “SPML”) được định dạng theo XML mô tả quá trình cấp phát  và hủy cấp phát yêu cầu theo quản lý chu trình vòng đời của định danh (Identity Life cycle Management) được mô tả theo hình sau :
Hình số 1 : Quản lý chu trình vòng đời của định danh
vertical_align_top
share
Chat...